RON INTERNATIONAL — Biotechnology Stem Cells
RON INTERNATIONAL® · SKIN LONGEVITY™ HEALTHY SKIN IS THE NEW LUXURY

Quốc gia & ngôn ngữ

Chọn bản dịch tương ứng của trang đang xem.

RON INTERNATIONAL®

KHÁM PHÁ SẢN PHẨM

Đến nội dung chính
RON INTERNATIONAL®SKIN LONGEVITY™
Menu
Kết nối với RON ↗

KIẾN THỨC & CÂU CHUYỆN

AOV tại Spa: đọc giá trị đơn bán lẻ cho đúng

RON INTERNATIONAL® · KIẾN THỨC THỰC HÀNH CHO CHỦ SPA

AOV tại Spa: đọc giá trị đơn bán lẻ cho đúng

AOV tại Spa là giá trị bình quân của một đơn trong phạm vi đã chọn. Con số chỉ có nghĩa khi người đọc biết “đơn” là gì, khoản tiền nào được tính và dữ liệu đã chốt đến lúc nào. Đếm dòng sản phẩm, khách mua hoặc lần chuyển khoản thay cho đơn sẽ cho những kết quả khác nhau.

Bài thực hành dùng bán lẻ tại Spa làm phạm vi chính. Toàn bộ Spa V, mã đơn, số lượng và số tiền bên dưới đều giả định, không phải kết quả RON hay chuẩn ngành. Đầu ra là một phiếu đối soát có thể tính lại, không phải mục tiêu buộc khách mua nhiều hơn.

Nội dung bài học
  1. Chọn câu hỏi trước khi xem giá trị đơn
  2. Tách đơn, người, món, buổi và lần thanh toán
  3. Khóa kỳ, tập đơn và cách tính tiền
  4. Viết công thức cùng tên của tử số
  5. Chuẩn bị bảng nguồn và đường đối soát
  6. Ví dụ giả định: từ 12 hồ sơ đến tám đơn được tính
  7. Đọc đúng mẫu số và trường hợp bằng không
  8. Hoàn và hủy: giữ được đường về đơn gốc
  9. Tiền cọc và thanh toán nhiều lần không nhân số đơn
  10. Combo hàng và gói dịch vụ cần hai cách theo dõi
  11. So hai kỳ bằng tổng và số đơn, rồi kiểm cơ cấu
  12. Đặt AOV cạnh số dư và chất lượng phục vụ
  13. Phiếu điền: người khác phải tính lại được
  14. Mẫu trống để dùng tại cơ sở
  15. Chỉ thử thay đổi khi dữ liệu và giới hạn đã rõ
  16. Khép báo cáo bằng một quyết định có thể kiểm
  17. Câu hỏi thường gặp

Chọn câu hỏi trước khi xem giá trị đơn

Chủ Spa có thể muốn biết một nhóm hàng đang tạo ra giá trị đơn thế nào, một thay đổi cách trưng bày có đáng kiểm tiếp hay báo cáo đang lệch ở khâu nhập liệu. Hãy viết câu hỏi và quyết định dự kiến trước. “Tăng AOV” còn quá rộng nếu chưa rõ sẽ thay việc gì và cần bảo vệ điều gì.

Bài này bổ sung phép đọc theo đơn cho quy trình bán lẻ mỹ phẩm tại Spa. Bán đúng nhu cầu, giải thích rõ và giữ quyền lựa chọn của khách vẫn là điều kiện đầu tiên. AOV không chấm điểm giá trị con người, không cho phép tư vấn quá nhu cầu hoặc thay lời khuyên phù hợp bằng sản phẩm giá cao.

Chọn một phạm vi nhỏ có hồ sơ đủ kiểm, chẳng hạn đơn bán lẻ tại một cơ sở. Nếu trộn sản phẩm, buổi dịch vụ và gói trả trước, phải có cách tách từng phần trước khi đọc. Không dùng tổng tiền mọi hoạt động chia cho một mẫu số chỉ gồm đơn mỹ phẩm.

Tách đơn, người, món, buổi và lần thanh toán

Đơn là giao dịch bán được nhận diện bằng mã và quy tắc đã khóa. Một đơn có ba món vẫn là một đơn; một người mua hai đơn thật ở hai lần khác nhau vẫn tạo hai đơn. Ngược lại, bản sao xuất từ hai hệ thống không tự thành đơn thứ hai. Cần nối bằng mã hoặc bằng chứng giao dịch, không gộp chỉ vì cùng số tiền.

Người mua là đơn vị khác. Muốn đếm người duy nhất phải có quy tắc nhận diện và quyền dùng dữ liệu phù hợp. Buổi dịch vụ là lần thực hiện; lần thanh toán là chuyển động tiền. Một đơn có thể trả hai lần, còn một buổi dùng quyền lợi gói có thể không phát sinh đơn bán mới.

Ghi nhãn ngay trên cột: số đơn, số người, số món, số buổi hay số lượt thu. Hồ sơ khách Spa đa kênh giúp giữ các đơn vị nhất quán khi bàn giao. Không lấy một cột tên “khách” làm mẫu số cho mọi báo cáo.

Bốn đơn vị cần tách khi đọc AOV tại Spa: đơn, người, món hoặc buổi và lượt thu
Các đơn vị không hoán đổi. Sơ đồ khái niệm, không mô tả dữ liệu khách thật.

Khóa kỳ, tập đơn và cách tính tiền

Phiếu cần ngày bắt đầu, ngày kết thúc, múi giờ và mốc khóa dữ liệu. Chọn ngày đặt đơn, ngày giao hoàn tất hay một mốc khác có lý do; ghi cụ thể, không đổi giữa hai kỳ. Cũng cần nêu cơ sở, kênh, nhóm hàng, trạng thái được đưa vào và cách loại đơn thử hoặc bản ghi trùng.

Trong bài tập, tập đơn gồm đơn bán lẻ đã giao hoàn tất trong kỳ tại một cơ sở. Đơn hủy trước giao, yêu cầu chỉ mới đặt cọc và đơn thử được để riêng. Số tiền hàng không gồm thuế hoặc phí giao hàng; các khoản ấy được tách trong sổ. Đây là quy ước quản trị của ví dụ, không phải quy tắc bắt buộc cho mọi phần mềm hay hướng dẫn hạch toán.

Sau khi khóa tập đơn, theo dõi giảm giá và hoàn tiền gắn với chính các mã ấy đến mốc đối soát. Nếu hệ thống dùng AOV theo giá trị lúc đặt đơn và chưa tính điều chỉnh về sau, hãy giữ đúng nhãn của nó. Một phiếu điều chỉnh sau hoàn có thể hữu ích, nhưng không được so như hai báo cáo cùng định nghĩa.

Viết công thức cùng tên của tử số

Cấu trúc chung là giá trị bình quân mỗi đơn = tổng giá trị đơn theo quy ước ÷ số đơn của cùng tập. Mẫu số phải lớn hơn không. Giá trị tiền, trạng thái và thời điểm của tử số cần khớp với các đơn đã chọn; không kéo một khoản hoàn của tập khác vào chỉ để khớp tổng ngân hàng.

Bài tập đọc hai con số riêng: bình quân tiền hàng sau giảm giá, trước hoàn; và bình quân tiền hàng sau giảm giá, sau khoản hoàn đã đối soát. Ở con số thứ hai, giữ tập đơn gốc đã giao, kể cả đơn được hoàn một phần. Không tự xóa một đơn khỏi mẫu chỉ vì giá trị giảm.

Luôn in tên đầy đủ cạnh kết quả. “AOV sau hoàn theo tập đơn đã giao” là nhãn nội bộ có quy ước riêng trong bài này. Không mặc định nó trùng chỉ số AOV trên màn hình bán hàng. Người phụ trách tài chính xác nhận cách nối số với sổ sách thực tế.

Chuẩn bị bảng nguồn và đường đối soát

Mỗi đơn cần mã, mốc vào kỳ, trạng thái, giá trị hàng trước giảm, giảm giá, khoản hoàn đã gắn mã và giá trị dùng cho báo cáo. Giữ mã chứng từ hoặc nơi tra cứu cùng người kiểm. Nếu xuất theo dòng sản phẩm, cộng các dòng về một mã đơn trước khi đếm; tránh cộng lại tổng đơn lặp trên từng dòng.

Khoản hoàn cần mã riêng và liên kết về đơn gốc. Kiểm xem nguồn đã trừ nó chưa trước khi trừ thêm. Bản ghi thanh toán hỗ trợ đối soát, nhưng không thay thế danh sách đơn. Ghi các chênh lệch chưa giải thích vào hàng chờ xác minh, có người nhận và mốc đọc lại.

Bảng họp chỉ cần mã phù hợp và số tổng hợp, không cần tên, số điện thoại hay thông tin tình trạng da. Thay tên bằng mã chưa tự bảo đảm ẩn danh; người xem bảng và quyền truy cập bảng nối mã vẫn cần được kiểm soát.

Ví dụ giả định: từ 12 hồ sơ đến tám đơn được tính

Sổ bài tập Spa V có 12 hồ sơ độc lập: tám đơn giao hoàn tất, hai đơn hủy trước giao, một yêu cầu mới cọc và một đơn thử. Tám đơn đủ điều kiện được liệt kê dưới đây; bốn hồ sơ còn lại có lý do loại riêng. Các mã người chỉ phục vụ phép đếm trong dữ liệu giả định.

Mọi số tiền trong bảng là nghìn đồng. Khoản hoàn 100 ở D03 đã được nối về đúng đơn và xác minh trước mốc chốt. Bảng không chứa gói trả trước, thuế, phí giao hàng hay nghĩa vụ dịch vụ.

Đơn / ngườiTrước giảmGiảm giáHoànGiá trị sau giảm và hoàn
D01 / K016001000500
D02 / K0270000700
D03 / K034000100300
D04 / K041.10010001.000
D05 / K0160000600
D06 / K0240000400
D07 / K0590000900
D08 / K0660000600
Tổng tám đơn5.3002001005.000

Trước hoàn: (5.300 − 200) ÷ 8 = 637,5 nghìn đồng/đơn. Sau khoản hoàn đã chốt: (5.300 − 200 − 100) ÷ 8 = 625 nghìn đồng/đơn. Chênh lệch đến từ phạm vi khoản tiền, không phải khách đã mua thêm hay việc bán hàng hiệu quả hơn.

Đọc đúng mẫu số và trường hợp bằng không

Tám đơn trong bảng thuộc sáu người: K01 và K02 mỗi người có hai đơn; bốn người còn lại mỗi người có một đơn. Chia 5.000.000 cho sáu người trả lời câu hỏi khác, không phải AOV. Bảng cũng không cho biết số buổi dịch vụ, nên không có căn cứ tính bình quân mỗi buổi.

Không chia cho 12 hồ sơ vì bốn hồ sơ không thuộc tập đơn đã khóa. Cũng không chia cho số dòng xuất nếu một đơn có nhiều dòng hàng. Khi hai cơ sở dùng cùng mã ngắn, ghép thêm mã cơ sở hoặc khóa duy nhất có căn cứ để không gộp nhầm hai đơn thật.

Nếu kỳ có không đơn đủ điều kiện, ghi “chưa tính được: mẫu số bằng 0”, không ghi AOV bằng 0. Nếu có đơn hợp lệ nhưng toàn bộ giá trị đã được hoàn theo quy ước giữ tập gốc, bình quân có thể bằng 0. Thiếu dữ liệu hoàn lại là “chưa đối soát”, không được thay bằng không hoàn.

Hoàn và hủy: giữ được đường về đơn gốc

Đơn hủy trước giao được loại trong ví dụ này vì không qua cổng giao hoàn tất. Với đơn đã giao rồi hoàn một phần, giữ mã trong tập gốc và giảm khoản tiền tương ứng ở phép đọc sau hoàn. Nếu hoàn toàn bộ sau giao, quy ước đang dùng vẫn giữ đơn ấy và ghi giá trị còn lại bằng không; báo số đơn hoàn riêng.

Giả sử sau mốc chốt mới phát hiện một khoản hoàn liên quan D02. Đừng âm thầm thay bản cũ. Tạo phiên bản mới của phiếu tám đơn, ghi khoản điều chỉnh, mốc dữ liệu và lý do. Nếu cần báo dòng tiền hoàn ở kỳ phát sinh, đó là bảng khác, có thể đối chiếu nhưng không nhập nhằng với giá trị tập đơn gốc.

Một cách đọc theo ngày phát sinh điều chỉnh có thể phục vụ mục tiêu khác. Khi chọn cách đó, giải thích tử số gồm khoản nào và mẫu số tương ứng là gì. Không lấy hoàn của đơn tháng trước trừ khỏi tiền hàng tháng này rồi gọi kết quả là AOV của riêng các đơn mới tháng này.

Tiền cọc và thanh toán nhiều lần không nhân số đơn

Ví dụ riêng: khách cọc 200.000 đồng cho một yêu cầu, sau đó giao hàng với giá trị được chấp nhận 600.000 đồng và trả nốt 400.000 đồng. Có hai lượt thu, nhưng khi yêu cầu đủ điều kiện theo phiếu thì chỉ có một đơn trị giá 600.000 đồng. Cộng 200.000 + 600.000 sẽ tính cọc hai lần.

Tại mốc chưa giao, yêu cầu chỉ mới cọc nằm ngoài tập đơn đã giao của bài tập. Tiền vẫn cần theo dõi trong sổ và hồ sơ nghĩa vụ liên quan, không biến mất vì chưa nằm trong AOV. Một khoản cọc được giữ, chuyển hoặc hoàn phải có căn cứ thực tế và người có trách nhiệm xử lý.

Không dùng bài tập này để quyết định khi nào một khoản thu trở thành doanh thu kế toán. Giữ riêng giá trị đơn, tiền thực nhận, khoản còn phải thu và phần còn phải thực hiện. Khi chúng khác nhau, đối soát bằng hồ sơ thay vì sửa số để mọi cột bằng nhau.

Combo hàng và gói dịch vụ cần hai cách theo dõi

Một combo ba sản phẩm được bán trong một đơn vẫn là một đơn khi tính AOV theo đơn. Số món phục vụ bài toán tồn kho hoặc cơ cấu, không thay mẫu số. Nếu phân tích từng nhóm hàng, cần quy tắc phân bổ giảm giá của toàn đơn; đừng trừ toàn bộ ưu đãi vào từng món.

Gói trả trước cho nhiều buổi có thêm nghĩa vụ phục vụ. Việc bán gói, nhận tiền và thực hiện từng buổi là những sự kiện khác nhau. Không cộng toàn bộ giá trị gói lúc bán rồi cộng lại toàn bộ khi khách dùng quyền lợi, như thể có hai lần bán độc lập. Mã gói và sổ quyền lợi phải nối được với nhau.

Để luyện AOV bán lẻ, có thể tách gói ra trước khi tính và ghi rõ phần bị loại. Khi cần một báo cáo chung, người phụ trách phải duyệt quy ước phân bổ và ghi nhận phù hợp. Bài mô hình hội viên Spa giúp kiểm quyền lợi, công suất và phần phải phục vụ; không suy từ tiền gói đã thu thành lợi nhuận sẵn có.

So hai kỳ bằng tổng và số đơn, rồi kiểm cơ cấu

Đừng lấy trung bình đơn giản của AOV từng ngày khi số đơn mỗi ngày khác nhau. Ví dụ riêng, ngày A có hai đơn tổng 1.800.000 đồng; ngày B có sáu đơn tổng 2.400.000 đồng. AOV lần lượt là 900.000 và 400.000 đồng. Gộp đúng là 4.200.000 ÷ 8 = 525.000 đồng/đơn, không phải (900.000 + 400.000) ÷ 2 = 650.000 đồng.

Một kỳ khác có thể bán nhiều hơn ở nhóm hàng giá cao dù giá trị đơn trong từng nhóm không đổi. Vì vậy, khi bình quân toàn Spa tăng, xem cơ cấu nhóm hàng, cơ sở, kênh và tỷ trọng ưu đãi trước khi kết luận nhân viên tư vấn tốt hơn. Các nhóm so sánh vẫn cần cùng quy ước và thời gian đối soát.

AOV tăng cũng chưa bảo đảm tổng giá trị tăng. Một ví dụ độc lập: 10 đơn bình quân 600.000 đồng tạo tổng 6.000.000; tám đơn bình quân 650.000 đồng chỉ tạo 5.200.000. Hãy đặt tổng, số đơn và bình quân cạnh nhau. Chênh lệch quan sát chưa chứng minh nguyên nhân.

Đặt AOV cạnh số dư và chất lượng phục vụ

Giá trị đơn không cho biết phần còn lại sau chi phí. Ví dụ riêng, đơn X có giá trị sau giảm trừ 600.000 đồng và biến phí trong phạm vi 250.000: còn 350.000 đồng. Đơn Y giá trị 900.000 nhưng biến phí 650.000: còn 250.000. Đơn lớn hơn trong ví dụ có đóng góp nhỏ hơn.

Phạm vi biến phí có thể gồm giá vốn, bao gói, phí thanh toán, phần giao hàng Spa chịu và khoản phát sinh theo đơn. Cần kiểm khoản nào đã nằm trong nguồn, tránh trừ hai lần. Phần chênh này còn phải bù định phí và khoản khác, nên không gọi là lợi nhuận ròng hoặc tiền có thể chi ngay.

Bảng đọc nên có số đơn, tổng giá trị, bình quân, khoản hoàn và phần đóng góp đã xác định. Thêm phản hồi về sự rõ ràng của tư vấn, khiếu nại và khả năng thực hiện. Một ưu đãi làm đơn cao hơn nhưng khách hiểu sai quyền lợi cần được sửa, dù chỉ số bán hàng trông đẹp.

Checklist đọc giá trị đơn cùng số đơn, giảm và hoàn, đóng góp và chất lượng phục vụ
Các lớp thông tin cần đọc cùng nhau. AOV cao hơn chưa chứng minh lợi nhuận hoặc hiệu quả của một thay đổi.

Phiếu điền: người khác phải tính lại được

Dùng cùng bảng tám đơn Spa V để điền phiếu. Người lập giữ đường về chứng từ; người kiểm đọc quy ước trước khi kiểm phép chia. Trạng thái “đã đối soát” chỉ áp dụng cho mốc ghi trên phiếu, không có nghĩa tương lai sẽ không có điều chỉnh.

TrườngBản điền giả định
Câu hỏiĐọc giá trị bình quân của tập đơn bán lẻ đã giao; chưa đánh giá một chiến dịch.
Phạm viMột cơ sở; kỳ minh họa A; tiền hàng không gồm thuế/phí giao; loại gói.
Tập đơnD01–D08; tám mã duy nhất; bốn hồ sơ khác có lý do loại.
Tiền và quy tắc5.300 − 200 − 100 = 5.000 nghìn đồng; khoản hoàn nối đúng tập đơn.
Kết quả625.000 đồng/đơn sau giảm và hoàn; trước hoàn là 637.500 đồng.
Mốc và người kiểmChốt tại mốc T sau kỳ A; vai trò phụ trách sổ bán và người đối soát.
Giới hạn / việc tiếpChưa có bảng biến phí; chưa kết luận lợi nhuận. Kiểm phần chi trước quyết định ưu đãi.

Kỳ A và mốc T là ký hiệu bài tập. Phiếu thực phải thay bằng thời điểm cụ thể, đường dẫn bản dữ liệu và người nhận việc. Một con số đúng phép chia nhưng thiếu các trường này vẫn chưa đủ để giao quyết định.

Mẫu trống để dùng tại cơ sở

Sao chép mẫu theo đúng nguồn của Spa. Điền quy ước trước khi đưa số vào; người có trách nhiệm duyệt phạm vi tiền và trạng thái đơn. Mỗi ô chưa có dữ liệu phải ghi “chờ kiểm”, kèm người giữ. Không điền số 0 cho đủ bảng.

Trường cần khóaNội dung Spa điền
Câu hỏi / quyết định dự kiến…
Cơ sở / kênh / nhóm hàng / phần loại…
Đầu kỳ / cuối kỳ / múi giờ / mốc đối soát…
Mốc đưa đơn vào / trạng thái / xử lý trùng…
Số đơn hợp lệ / danh sách mã nguồn…
Tiền hàng / giảm giá / hoàn / khoản khác…
Quy tắc thuế, phí, cọc, gói và hoàn khác kỳ…
Công thức / kết quả / tên đầy đủ của chỉ số…
Nguồn / phiên bản / người lập và kiểm…
Chênh lệch / việc tiếp / người giữ / ngày đọc lại…

Kèm bảng chi tiết đơn nếu cần đối soát, nhưng giới hạn quyền xem. Khi xuất dữ liệu để họp, dùng số tổng hợp phù hợp; đừng gửi cả hồ sơ khách chỉ vì mẫu có cột nguồn. Nếu đổi quy ước giữa hai kỳ, tính lại kỳ so sánh hoặc trình hai chuỗi riêng, không giấu thay đổi trong chú thích khó thấy.

Chỉ thử thay đổi khi dữ liệu và giới hạn đã rõ

Một việc thử có thể là làm rõ nội dung combo hoặc cách trình bày lựa chọn phù hợp. Ghi giả thuyết, phạm vi hàng, thời gian, người duyệt và điều kiện dừng. Không thêm sản phẩm chỉ để nâng giá trị đơn; khách phải hiểu thành phần, giá, điều kiện và được từ chối.

Trước thử, giữ bản giá và quy tắc đo. Trong thử, theo dõi đơn, tổng tiền, bình quân, hoàn, biến phí và vấn đề phục vụ theo cùng định nghĩa. Sau thử, chờ đủ mốc đối soát đã chọn; nếu còn hoàn chưa xử lý, ghi kết quả tạm. Không chọn ngày đẹp nhất rồi so với một kỳ khác cơ cấu.

Nếu thay đổi nhiều việc cùng lúc hoặc không có thiết kế so sánh phù hợp, chỉ báo điều đã quan sát và những nguyên nhân có thể khác. AOV nhích lên không tự chứng minh phương án hiệu quả. Người duyệt cân nhắc đóng góp, khả năng phục vụ và phản hồi trước khi mở rộng.

Bốn cổng kiểm trước quyết định thay đổi bán lẻ tại Spa: quy ước, nguồn, giới hạn và việc tiếp
Checklist thực hành; hoàn thành phiếu không phải cam kết tăng trưởng. Giữ quyền lựa chọn và nhu cầu thực của khách.

Khép báo cáo bằng một quyết định có thể kiểm

Cuối buổi đọc số, chốt một trong các việc: sửa dữ liệu, bổ sung hồ sơ chi phí, tiếp tục quan sát hoặc thử một thay đổi đã giới hạn. Nêu người giữ, đầu ra và mốc đọc lại. “Tiếp tục tăng AOV” chưa phải công việc nếu không ai biết phải sửa điều gì.

Giữ bản cũ khi cập nhật khoản hoàn hoặc sửa đơn trùng, kèm lý do và tác động tới kết quả. Bảng AOV phục vụ đọc đơn bán lẻ trong phạm vi đã khóa; nó không thay dự báo giá trị cả quan hệ với khách, không đánh giá một buổi dịch vụ và không thay báo cáo tiền.

Một phiếu tốt giúp người khác trả lời được ba câu: tiền nào đã cộng, đơn nào đã đếm, phần nào còn chưa biết. Khi ba câu ấy rõ, chủ Spa có cơ sở bàn việc cụ thể mà không phải tin vào một con số đứng riêng.

Câu hỏi thường gặp

AOV có phải doanh thu chia cho số khách không?

Mẫu số của AOV là số đơn theo quy ước đã khóa. Một người có thể có nhiều đơn; chia cho người trả lời câu hỏi khác. Tử số cũng phải thuộc chính tập đơn ấy, với nhãn rõ về giảm giá, hoàn và thời điểm.

Đơn có nhiều sản phẩm có tính nhiều lần không?

Không nếu đang đo theo đơn: cộng giá trị các dòng về mã đơn rồi đếm mã hợp lệ một lần. Số món là chỉ số riêng. Kiểm nguồn có lặp tổng đơn trên từng dòng hay không trước khi cộng tiền.

Cọc và trả nốt được ghi thành hai đơn không?

Hai lượt thanh toán không tự tạo hai đơn. Nối chúng với giao dịch gốc. Trong quy ước ví dụ, yêu cầu chỉ mới cọc chưa vào tập đơn đã giao; tiền cọc vẫn được theo dõi riêng cùng nghĩa vụ liên quan.

Hoàn tiền sau kỳ có phải xóa đơn khỏi mẫu không?

Không tự xóa. Với phép đọc theo tập đơn gốc trong bài, nối khoản hoàn về mã, cập nhật phiên bản và giữ mẫu số đã giao. Bảng theo ngày phát sinh hoàn có mục tiêu khác; tên báo cáo phải nói rõ cách dùng.

AOV tăng có nghĩa là Spa lãi hơn không?

Chưa đủ. Cần xem số đơn, tổng giá trị, cơ cấu, hoàn và chi phí trong cùng phạm vi. Một đơn giá trị cao có thể đóng góp thấp hơn. Phần đóng góp cũng chưa phải lợi nhuận ròng hay tiền sẵn để chi.

Không có đơn hoặc chưa đủ dữ liệu thì ghi gì?

Không có đơn hợp lệ nghĩa là chưa tính được bình quân vì mẫu số bằng không. Thiếu dữ liệu thì ghi chờ đối soát. Nếu có tập đơn hợp lệ và giá trị sau hoàn đã kiểm bằng không, đó mới là trường hợp bình quân bằng không theo quy ước ấy.

Giỏ hàng0

RON INTERNATIONAL®

Giỏ hàng của bạn

ZALO